Đây là bản dịch từ bản gốc tiếng Anh. Trong quá trình dịch có thể một số ý chưa được truyền tải đầy đủ hay sáng tỏ như trong bản gốc, mong bạn đọc phản hồi hoặc gửi câu hỏi nếu có điều gì chưa rõ.
Bạn có thể đọc bản gốc tại đây.
Bạn thân mến,
Nếu bạn đang đọc những dòng này, tôi tin rằng bạn cũng chia sẻ niềm tin với tôi rằng giáo dục nhân quyền có thể trở thành một sức mạnh thúc đẩy một thế giới tốt đẹp hơn – và cách chúng ta giảng dạy nhân quyền cũng quan trọng không kém nội dung mà chúng ta truyền đạt. Từ chỗ là một người học, rồi dần trở thành một nhà nghiên cứu và giảng dạy, tôi đã đúc kết một vài suy ngẫm về việc chúng ta dạy như thế nào, và tại sao điều đó lại quan trọng.
Trước hết, theo quan sát của tôi, nhiều mô hình giáo dục nhân quyền hiện nay thường nhấn mạnh quá nhiều vào khung pháp lý, cơ chế, và các khái niệm mang tính kỹ thuật. Những điều này dĩ nhiên quan trọng. Tuy nhiên, khi chúng trở thành nội dung chính, hoặc thậm chí là nội dung duy nhất, điều đó có nguy cơ tạo ra một cách hiểu máy móc, khô khan về nhân quyền. Người học có thể nhớ các thuật ngữ, định nghĩa, các pháp chế và thiết chế liên quan tới nhân quyền, nhưng lại thiếu mất cảm hứng hành động hay sự sáng rõ về mặt đạo đức, lương tâm – những điều sẽ nuôi dưỡng sự bền bĩ trên con đường ủng hộ hay hành động vì nhân quyền. Trên thực tế, rất nhiều người học mang theo những trải nghiệm từ chính bản thân, những trăn trở, ray rứt với bất công, đàn áp. Việc dạy và học nên bắt đầu từ những trải nghiệm đó, và trong suốt quá trình liên tiếp quay lại đó để phản tư.
Thứ hai, nhân quyền thường (dù vô tình) được trình bày như một di sản từ phương Tây, để nghiên cứu, hấp thụ, rồi áp dụng vào các bối cảnh ở những quốc gia “đang phát triển”. Vấn đề địa phương trở thành ví dụ minh họa; người học bản địa trong vai trò tiếp thu thụ động. Cách tiếp cận này không giúp cho người học tự gắn kết nhân quyền vào bối cảnh của chính họ, và thậm chí còn có thể cản trở con đường tự kiến tạo thay đổi. Đối với những ai làm việc trong các xã hội hậu chiến, hậu thuộc địa, hay dưới chế độ độc tài, điều này lại càng dễ gây nản chí.
Thứ ba, nhiều chương trình giảng dạy né tránh những yếu tố chính trị và lịch sử vốn định hình cách nhân quyền được hiểu và tranh luận trong đời sống người học. Tôi hiểu rằng chúng ta thường chịu áp lực phải tránh “chính trị hóa” chủ đề này, hoặc né tránh các cáo buộc cho rằng nhân quyền là sản phẩm ngoại lai, mang tính ý thức hệ, hay không phù hợp với văn hóa địa phương. Nhưng khi ta không đề cập tới ai nắm quyền, ai bị loại trừ, và vì sao, ta đã bỏ lỡ cơ hội giúp người học hiểu được căn nguyên sâu xa của vi phạm nhân quyền ngay trong bối cảnh của họ. Khi né tránh lịch sử và chính trị, chúng ta sẽ chỉ lướt trên bề mặt, động tới phần nổi của tảng băng, và rồi đưa ra những giải pháp khó thực hiện và ít có khả năng tạo ra thay đổi thực chất. Khi ta không giải cấu trúc quyền lực, ta cũng vô tình góp phần duy trì vòng xoáy áp bức – nơi kẻ bị áp bức, một khi thắng lợi, lại có nguy cơ trở thành kẻ áp bức mới.
Cuối cùng, và cũng không kém phần quan trọng, đó là chúng ta thường dạy với khung thời gian quá dồn nén, với các buổi lên lớp liên tục, hầu như không còn chỗ cho hành động, tự vấn, hay phản tư. Trong khi chúng ta đều biết, sự chuyển hóa trong nhận thức không thể diễn ra theo lịch trình chóng vánh. Nó đòi hỏi thời gian lẫn không gian riêng tư, để người học nhập tâm, lùi lại, thử nghiệm, phản tư, trước khi quay lại hành động với nhận thức mới – một quá trình tương tự như vòng tròn xoắn ốc. Mỗi vòng tròn như thế không chỉ mang lại sự hiểu biết sâu sắc hơn, mà còn khơi ra những câu hỏi mới, nuôi dưỡng quá trình học tập một cách sống động, và giúp người học thực sự phát triển bản thân.
Cuốn cẩm nang được chia sẻ dưới đây sẽ đi vào những thách thức ấy theo ba cách. Thứ nhất, nó đặt lòng trắc ẩn ở điểm khởi đầu và cũng là trung tâm của giáo dục nhân quyền. Theo trải nghiệm của tôi, lòng trắc ẩn thường là động lực chính đưa người học tới lớp. Nó thường xuất phát từ nỗi phẫn uất hay cảm thương trước bất công, trước nỗi khổ của người khác, và mong muốn có thể làm gì đó để khắc phục những điều sai trái, bất công ấy. Khi lòng trắc ẩn được phụ trợ bởi tư duy phản biện, hiểu biết lịch sử, và cơ hội được tương tác với kiến thức lẫn với thực tế, thì nó không chỉ khơi dậy động lực mà còn giúp duy trì hoạt động xã hội bền vững. Nó giúp người học đối diện với những câu hỏi khó, trao cho họ dũng khí hành động, và mời gọi họ phản tư về những hành động đó để đạt tới sự thấu hiểu sâu sắc hơn, và cam kết hành động mạnh mẽ hơn.
Thứ hai, cuốn cẩm nang này cung cấp một phân tích ngắn gọn nhưng thấu đáo về bối cảnh chính trị và văn hóa định hình cách người học trong các xã hội độc tài hiểu về nhân quyền. Điều này cũng giúp người dạy dự đoán trước những câu hỏi khó hoặc mâu thuẫn có thể nảy sinh trong lớp học.
Thứ ba, cẩm nang khuyến khích một phương pháp sư phạm trao quyền cho người học: để họ làm chủ quá trình tìm tòi, kết nối bài học với trải nghiệm sống của mình, và đi qua các vòng tròn hành động-phản tư theo nhịp riêng.
Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa trong môi trường độc tài hay đàn áp, nơi mà những câu chuyện về tinh thần dân tộc, lợi ích quốc gia, hay truyền thống văn hóa thường bị lợi dụng để biện minh cho vi phạm nhân quyền, và nơi văn hóa độc tài có thể duy trì ngay cả bởi những người từng bị áp bức. Khi giáo dục nhân quyền bắt rễ từ lòng trắc ẩn, được đặt trong bối cảnh cụ thể, và tiến hành một cách cẩn thận, chú trọng phản tư, nó giúp người học nhận diện những mô thức ấy, hình dung các khả thể khác, và tham gia vào tiến trình tạo ra sự thay đổi có tính gốc rễ.
Đi theo cách tiếp cận này, giáo dục nhân quyền có thể nuôi dưỡng ở người học:
- Niềm xác tín cá nhân trong việc lên tiếng cho công lý, bình đẳng, và nhân phẩm – đặc biệt cho những nhóm dễ bị tổn thương nhất;
- Ý thức rõ ràng hơn về năng lực hành động và trách nhiệm của bản thân;
- Hiểu biết về các lực lượng chính trị, lịch sử, và văn hóa định hình cuộc đấu tranh nhân quyền trong chính xã hội của họ;
- Một cảm giác kết nối và đồng điệu giữa những cuộc đấu tranh nhân quyền tại quê hương mình và các cuộc đấu tranh trong lịch sử phương Tây, để thấy được rằng tiến bộ, dù ở đâu, cũng là kết quả của hy sinh, nỗ lực, và tranh đấu.
Trong các chương tiếp theo, tôi sẽ trình bày chi tiết về phương pháp sư phạm nhân quyền này. Cụ thể, Chương I và II bàn về bản chất của chủ nghĩa độc tài và những mục tiêu đặc thù mà giáo dục nhân quyền cần phục vụ trong bối cảnh ấy. Chương III chia sẻ kết quả nghiên cứu tại Việt Nam, nơi lòng trắc ẩn là một động lực then chốt trên con đường hoạt động xã hội, phụng sự cộng đồng của những nhà hoạt động. Chương IV đề xuất các nguyên tắc sư phạm quan trọng cho quá trình học tập.
Trước khi bạn bước vào các chương tiếp theo, tôi mong bạn sử dụng cuốn cẩm nang này không phải như một giáo trình, một danh mục các việc cần làm, hay một hướng dẫn về kỹ thuật giảng dạy. Tha vào đó, hãy xem nó như một chiếc la bàn để định hướng mà tôi đã đúc rúc được từ nghiên cứu, phản tư, và từ trải nghiệm với những con người dấn thân vì nhân quyền mà tôi may mắn được học hỏi. Nó cũng được nuôi dưỡng từ các công trình về giáo dục phản biện của Paulo Freire, về thống soát văn hóa của Antonio Gramsci, và luận văn “Quyền lực của những người vô danh” của nhà hoạt động Vaclav Havel.
Xin trân trọng cảm ơn công việc giáo dục nhân quyền mà bạn đang làm, để càng có thêm những người được trải nghiệm hơi thở và bước chân tự do, được chạm đến những sự thật bị né tránh, thậm chí chôn giấu, và được ươm mầm can đảm để hành động cho lẽ phải. Tôi hy vọng cuốn cẩm nang này có thể mang lại cho bạn đôi chút điểm tựa và sức mạnh để tiếp tục trên hành trình của bạn.
Bấm vào đây để tải bản PDF đầy đủ của cẩm nang.
Và đây là form để tiếp nhận đánh giá của bạn sau khi đã đọc xong. Rất cảm ơn nếu bạn có thể dành thời gian và sẵn lòng chia sẻ. Hiện form đang chỉ có bản tiếng Anh, tôi sẽ cập nhật bản tiếng Việt sớm nhất có thể.